Thứ Hai, 1 tháng 10, 2007

Ép buộc tình dục: Đừng biến buồng ngủ thành nhà... thổ

[vietimes.com.vn] ..."Ép buộc tình dục trong hôn nhân được coi là chuyện khá phổ biến của các cặp vợ chồng, là nguyên nhân của nhiều vấn đề về sức khỏe của phụ nữ. Bài viết này tập trung phân tích quan niệm của đàn ông về thế nào là ép buộc tình dục, nguyên nhân, cũng như những hậu quả của việc ép buộc tình dục".

Bài viết dựa trên các thông tin thu được từ một cuộc nghiên cứu thực hiện tại Nghệ An từ năm 2004 đến năm 2005. Bài viết cho thấy mặc dù đa số nam giới được hỏi cho rằng ép buộc tình dục trong hôn nhân không tồn tại, mặc dù phần lớn thừa nhận họ khá thường xuyên quan hệ tình dục với vợ ngay cả khi nhận ra vợ không muốn...


Ép buộc tình dục trong hôn nhân được coi là chuyện khá phổ biến của các cặp vợ chồng (Population Report, 1999), là nguyên nhân của nhiều vấn đề sức khỏe của phụ nữ. Bài viết này tập trung phân tích quan niệm của đàn ông về việc thế nào là ép buộc tình dục, nguyên nhân, cũng như những hậu quả của việc ép buộc tình dục. Ảnh hưởng của những chuẩn mực về vai trò giới và tình dục có thể coi là nguyên nhân khiến đa số nam giới được phỏng vấn không thừa nhận sự tồn tại của việc ép buộc tình dục trong hôn nhân. Việc hiểu đúng nhận thức quan điểm về ép buộc tình dục trong hôn nhân sẽ góp phần giúp chúng ta hiểu đúng thực trạng của hiện tượng vốn chưa được biết đến nhiều này.

Nghiên cứu về ép buộc tình dục đã xuất hiện từ lâu trong các nghiên cứu về tình dục và sức khỏe sinh sản. Quan điểm được chấp nhận rộng rãi gần đây nhất coi ép buộc tình dục như là “một chuỗi các hình thức gây áp lực, từ cưỡng hiếp cho đến các hình thức phi bạo lực, nhằm buộc phụ nữ phải chấp nhận quan hệ tình dục trái với mong muốn của họ” (Population Report, 1999).

Nếu căn cứ trên định nghĩa về sức khỏe tình dục của Tổ chức Y tế thế giới, thì một trong những điều kiện đẻ đạt được tình trạng sức khỏe tình dục tốt là không có ép buộc quan hệ tình dục:


Sức khỏe tình dục là trạng thái thoải mái về thể chất, cảm xúc, tinh thần và xã hội liên quan tới tình dục; sức khỏe tình dục không chỉ có nghĩa là không bị bệnh tật. Sức khỏe tình dục đòi hỏi một cách tiếp cận tích cực và nghiêm túc đối với tình dục và các mối quan hệ tình dục, những thú vui tình dục và những trải nghiệm tình dục an toàn, và không có ép buộc tình dục. (WHO, 2002)

Xét về mối quan hệ giữa nạn nhan và người ép buộc, ép buộc tình dục trong hôn nhân được coi là phổ biến hơn cả. Nạn nhân thường là người vợ, kẻ ép buộc thường là người chồng (population report, 1999). Khái niệm trên về ép buộc tình dục cho rằng phải có một hình thức gây ép lực nào đó từ phía người chồng (trong số rất ít trường hợp, từ phía người vợ), để nhằm mục đích quan hệ tình dục thì mới được xem là quan hệ tình dục ép buộc.

Bàn luận về cách hiểu thế nào là ép buộc quan hệ tình dục hiện nay, Marston (2005) cho rằng rất khó có thể định nghĩa được khái niệm ép buộc quan hệ tình dục một cách khách quan từ quan điểm của "người ngoài cuộc". Nói cách khác, những người trong cuộc có thể không coi một hành vi tình dục là ép buộc mặc dù hành vi đó thỏa mãn những yêu cầu mà định nghĩa trên đã nêu.


Thứ nhất, định nghĩa nói trên đã không tính đến những chuẩn mực xã hội theo đó một người phụ nữ tốt nên là người bị động và bị buộc phải quan hệ tình dục, và điều này đã không cho phép chúng ta phân biệt được thế nào là chống cự thật sự và chống cự cho phải phép…Thứ hai, định nghĩa trên chỉ nhấn mạnh vào bản thân hành vi tình dục, chứ không đề cập tới bối cảnh trước và sau của hành vi đó, do vậy đã không cho thấy được những ý nghĩa xã hội rộng hơn của hành vi này. (Marston, 2005, 88:89).

Marston cũng cho rằng cả phụ nữ lẫn nam giới đều có thể vừa là nạn nhân, vừa là người ép buộc tình dục. Ngay trong báo cáo đã nêu năm 1999 của Hội đồng Dân số cũng đã khẳng định có một số nam giới bị vợ ép buộc tình dục, nhưng con số này không nhiều.

Vấn đề đáng bàn hơn ở đây là có thể coi những người phụ nữ quan hệ tình dục với chồng mặc dù không mong muốn, hay còn gọi là ‘chiều chồng’, là những nạn nhân của ép buộc tình dục hay không? Marston phát hiện thấy rằng cách mà nam giới và phụ nữ giải thích về ép buộc quan hệ tình dục phụ thuộc rất nhiều vào những chuẩn mực về vai trò giới và tình dục ở địa phương.

Khi chuẩn mực này càng có ảnh hưởng mạnh, thì người ta càng có xu hướng giải thích tích cực về ép buộc quan hệ tình dục. Quan niệm của nam giới về bản chất có ép buộc hay không của hành vi tình dục phụ thuộc rất nhiều vào những chuẩn mực này. Những người theo thuyết nữ quyền còn đi xa hơn với những lập luận rằng trong xã hội gia trưởng mà người chồng là đại diện, phụ nữ cảm thấy họ nên tuân thủ theo ý muốn quan hệ tình dục của chồng để tránh những bất lợi về kinh tế và xã hội có thể xảy ra đối với chính họ và con cái họ. Điểm chung trong các lập luận của những người theo thuyết nữ quyền là: "bạo lực vừa là sản phẩm, vừa là cơ chế qua đó nam giới duy trì sự thống trị phụ nữ". (Elliot, 1996:1997).


Nhiều học giả cho rằng, bên cạnh việc xem xét những câu chuyện của phụ nữ về việc họ bị ép buộc ra sao, cần phải tìm hiểu quan điểm của nam giới để có được một hiểu biết đầy đủ hơn về ép buộc tình dục. Hardon đã nhận xét khái quát rằng, nhìn chung những nghiên cứu về sức khỏe sinh sản và sức khỏe tình dục đã “tập trung quá nhiều vào những phụ nữ đã có gia đình và bỏ qua những vấn đề sức khỏe cũng như quan điểm của nam giới” (Hardon, 1995:112).

Hardon ngụ ý rằng cần phải có những nghiên cứu về sức khỏe sinh sản và tình dục từ góc độ của nam giới. Điều này cũng tương đồng với ý kiến của Marston cho rằng ép buộc tình dục khó có thể được hiểu một cách đầy đủ nếu quan điểm của nam giới không được tính đến và quan niệm ép buộc tình dục bị chi phối bởi những chuẩn mực về giới và tình dục ở địa phương.

Xuất phát từ những lập luận trên, chúng tôi cố gắng tìm hiểu quan điểm của nam giới về ép buộc quan hệ tình dục trong hôn nhân nhằm có được cái nhìn toàn diện hơn về hiện tượng này, từ đó góp phần ngăn chặn tình trạng ép buộc tình dục trong hôn nhân. Việc xác định một người có hành vi ép buộc quan hệ tình dục với vợ mình không dựa trên chính câu trả lời của người đó về việc anh ta có nhận ra mình đang thực hiện hành vi tình dục mà vợ không mong muốn hay không.



Với mục đích tìm hiểu quan niệm của nam giới về sự tồn tại, nguyên nhân và hậu quả của ép buộc quan hệ tình dục trong hôn nhân, nghiên cứu của chúng tôi được thiết kế theo ba giai đoạn, lần lượt vào các tháng 11 năm 2004, tháng 3 năm 2005 và cuối cùng vào tháng 5 năm 2005. Ở giai đoạn thứ nhất chúng tôi đã tiến hành 23 phỏng vấn sâu (5 nam có gia đình và 8 nữ có gia đình). Mục đích của giai đoạn này là xác định những mối liên hệ nhân quả có thể có của hiện tượng ép buộc tình dục trong hôn nhân với các chuẩn mực về giới và tình dục ở địa phương, và với sức khỏe phụ nữ. Trong giai đoạn này chúng tôi tìm hiểu thái độ chung của người được phỏng vấn với thuật ngữ "ép buộc tình dục" mà nhà nghiên cứu sử dụng. Bài học lớn nhất ở giai đoạn này là việc sử dụng cụm từ "ép buộc tình dục trong hôn nhân" đã khiến những nam giới được phỏng vấn phản cảm, dẫn tới việc họ có tâm lý không muốn trả lời hoặc thảo luận những vấn đề liên quan.


Trong giai đoạn thứ hai, chúng tôi tiếp tục tiến hành 24 phỏng vân sâu (10 nam và 14 nữ) và 3 thảo luận nhóm (2 nhóm nam và 1 nhóm nữ có gia đình), với cụm từ "ép buộc tình dục trong hôn nhân" đã được sửa thành "quan hệ tình dục không mong muốn trong hôn nhân". Những nam giới tham gia phỏng vấn được giải thích rằng quan hệ tình dục không mong muốn trong hôn nhân là việc một người vẫn quan hệ với vợ khi đã nhận thấy vợ không mong muốn việc quan hệ ấy. Việc sửa đổi tên gọi như trên đã cho kết quả là các nam giới đã cộng tác với nhà nghiên cứu tích cực hơn nhiều.


Ở giai đoạn ba, sau khi đã hoàn chỉnh bảng câu hỏi đã thử nghiệm trong giai đoạn hai, chúng tôi tiến hành phỏng vấn 120 nam giới đã có gia đình và 120 nữ giới, sinh sống tại ba xã thuộc ba huyện khác nhau của Nghệ An (Quỳnh Bá ở Quỳnh Lưu, Xuân Thành ở Yên Thành, Văn Sơn ở Đô Lương). Tại mỗi xã, có 40 nam giới và 40 nữ giới được mời phỏng vấn, sao cho những người này không phải là vợ chồng của nhau. Đồng thời, những người được chọn không phải là những người đã tham gia vào phỏng vấn sâu và thảo luận trước đó.

Sự lựa chon như vậy nhằm đảm bảo rằng ý kiến của những người tham gia phỏng vấn không phải bị ảnh hưởng bởi quan điểm của những người khác trước hoặc giữa những lần phỏng vấn. Mẫu nghiên cứu được chọn ngẫu nhiên, với bước nhảy bằng 3, theo thứ tự ghi trong danh sách các hộ gia đình do cộng tác viên dân số cung cấp. Ví dụ, trong danh sách đã cho, các hộ gia đình dược chon theo thứ tự là 1, 4, 7, 10…Trong giai đoan cuối cùng này, có 15 nam giới đã được phỏng vấn sâu. Tổng số nam được phỏng vấn sâu của cả ba giai đoạn là 30 người (tương ứng với số nữ là 30 người). Ngoài ra chúng ta cũng đã tiến hành 3 phỏng vấn nhóm khác, gồm 1 nhóm nam và 2 nhóm nữ có gia đình.

Mặc dù rất nhiều thông tin đã được bàn đến trong các cuộc phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm, và phỏng vấn cấu trúc bằng bảng hỏi, bài viết này tập trung mô tả mối quan hệ giữa những chuẩn mực về giới và tình dục và quan niệm của nam giới về sự tồn tại, nguyên nhân, cũng như hậu quả của ‘quan hệ tình dục không mong muốn’. Như đã trình bày ở trên, khái niệm này được sử dụng thay thế cho khái niệm ‘ép buộc tình dục’ đã trình bày ở phần một

Chuẩn mực và tình dục và quan niệm của nam giới về ép buộc tình dục

Ban đầu đại đa số nam giới được phỏng vấn đều không thấy thoải mái khi nghe cum từ ‘ép buộc tình dục trong hôn nhân’.với họ, ‘ép buộc tình dục’ dường như là chuyện xảy ra ở bên ngoài gia đình, ngoài hôn nhân, chứ không thể xảy ra giữa vợ và chồng. Sau đây là một ví dụ tiêu biểu cho loại phản ứng này:

Hỏi: Anh hiểu thế nào là ép buộc tình dục?

Đáp: Tôi đã làm việc đấy bao giờ đâu mà biết!

(Nam, sinh năm 1965)…

(Còn tiếp)

Vũ Hồng Phong

Vũ Hồng Phong


Vũ Hồng Phong là một nghiên cứu viên trẻ trong lĩnh vực Nhân học và Xã hội học về sức khỏe. Anh nhận bằng cử nhân Xã hội học tại Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội năm 1998.

Từ năm 1999 đến năm 2002, Vũ Hồng Phong làm việc tại Trung tâm Nghiên cứu giới, gia đình và môi trường trong phát triển (CGFED). Sau đó anh học cao học về Nhân học y tế tại Đại học Amsterdam, Hà Lan, khóa học 2002-2004.

Từ năm 2002 đến nay anh công tác tại Viện Xã hội học. Lĩnh vực quan tâm nghiên cứu chính của anh là giới, tình dục và sức khỏe sinh sản.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

* Thời Báo Phan Nguyễn : Xin cám ơn sự quan tâm của quý vị và các bạn. Rất mong nhận được những đóng góp, xây dựng để Thời Báo Phan Nguyễn ngày càng hấp dẫn, phong phú hơn. Mọi thư từ xin gửi về: phantanloc@gmail.com

* Quý vị vui lòng viết lời nhận xét nghiêm túc, xin đừng spam !